Nhân vật sự kiện: Từ Linh- Đoàn Chuẩn

Từ Linh- Đoàn Chuẩn

    Đoàn Chuẩn hay Từ Linh, Từ Linh hay Đoàn Chuẩn, ai là người thực sự đã viết nên những khúc nhạc tình làm rung động trái tim người nghe ấy? Hai người cùng viết chung hay chỉ một người viết (người kia chỉ đứng tên cho vui vậy)? Bài nào viết chung, bài nào viết riêng? Bài nào của người này mà không phải của người kia? Tại sao cũng bài nhạc ấy, khi thì ghi tên người này, khi lại ghi tên người khác? Người này viết nhạc, người kia viết lời, có phải vậy?… Những câu hỏi không có lời giải đáp hoặc có những lời giải đáp không giống nhau (của những người tự nhận quen biết tác giả hoặc am hiểu chuyện ấy).

   Đoàn Chuẩn (15 tháng 6, 1924 – 15 tháng 11, 2001) là một nghệ sĩ biểu diễn lục huyền cầm Hạ Uy Di, song được biết đến nhiều hơn cả như một nhạc sĩ Việt Nam với số lượng sáng tác ít ỏi nhưng đều trở thành những giai điệu thuộc nằm lòng của nhiều thế hệ. Sinh ra trong một gia đình tư sản ở Hải Phòng, ông lớn lên ở Hà Nội và là nghệ sĩ chơi đàn guitar Hawaii (Hạ Uy cầm). Người ta biết đến sáng tác năm 1948, ca khúc Tình nghệ sĩ của ông. Sau đó tiếp nối một loạt các bài với giai iệu đơn giản, nhẹ nhàng mà sâu lắng. Nhưng thực ra ông đã viết "Ánh trăng mùa thu" từ năm 1947, tại làng Đống Năm, Đông Hưng, Thái Bình. Ca khúc này gắn với một kỷ niệm về làng Khuốc (đất Chèo). Ông sáng tác cả thảy 18 ca khúc nhưng có 8 bài không phổ biến lắm, còn 10 bài kia đều rất nổi tiếng.

     Cái tên Đoàn Chuẩn đã trở nên quá thân quen với mỗi người yêu nhạc Việt. Những câu chuyện về ông cũng được khai thác và đưa ra công chúng để mọi người có cơ hội hiểu thêm về một nghệ sĩ - công tử tài hoa đất Bắc với nhiều sáng tác đi vào lòng .... Nhưng còn Từ Linh, bút danh luôn đứng cùng với tên Đoàn Chuẩn trong hầu hết các sáng tác ấy, lại là một ẩn số dường như rất hiếm hoi người biết, mặc dù đã nhiều lần, câu hỏi “Từ Linh là ai?” được đặt ra.

Từ Linh là ai?

     Người viết bài này đã may mắn tìm gặp được gia đình ông Từ Linh tại Hà Nội và câu chuyện về ông đã dần được sáng tỏ. Theo anh Hà Thạch An, con trai của Từ Linh cho biết, Từ Linh tên thật là Hà Đình Thâu, sinh năm 1928 tại Hà Nội, quê gốc ở xã Giai Phạm, huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên. Ông là con thứ tư trong gia đình có 4 anh em trai, lại là người ít nói nên cả nhà gọi ông là Tư “lì”. Ông Tư ít nói nhưng là người thích chữ nghĩa, hóm hỉnh, vậy là sau này, chính ông đã đặt lái cái tên Tư “lì” thành ra Từ Linh, và cái tên đó đã gắn bó với ông trong hầu hết các hoạt động.

     Sinh thời, Từ Linh là người có nhiều tài lẻ. Ông chơi guitar, thổi kèn, thường tỉ mẩn sửa cassette, biết tiêm phòng, chụp và chơi ảnh. Nếu Đoàn Chuẩn là công tử mê xe hơi thì Từ Linh cũng chịu chơi không kém. Thời ấy, những loại máy ảnh có tiếng trên thị trường, Từ Linh cũng không tiếc công tìm về, mà cũng chỉ để chụp chơi thôi, chứ không phải để kiếm sống. Vốn xuất thân là con nhà tiểu chủ, thời thanh niên, học xong, ông cũng tự lập công ty riêng, làm về xuất nhập khẩu, làm ăn với các thương gia Hong Kong, mà một trong những công ty làm ăn phát đạt nhất là công ty Thạch An. Sau này lấy vợ sinh con, ông cũng dùng cái tên đó để đặt tên cho con trai, để mong sau này con cũng được thành công như vậy. Ông và Đoàn Chuẩn cũng chính là hai người đã hùn hạp vốn để gây dựng rạp chiếu bóng Đại Đồng. Sau này, trong đợt cải tạo công thương nghiệp tư bản, cùng với việc hãng nước mắm Vạn Vân của gia đình Đoàn Chuẩn bị tiếp quản thì rạp Đại Đồng cũng được chuyển giao lại cho nhà nước. Sau đó Từ Linh đi bộ đội, Đoàn Chuẩn ở lại Hà Nội nhưng hai người vẫn giữ mối liên hệ thân thiết cho đến sau này gặp lại.

     Từ Linh là người tài hoa nhưng rất kín đáo và kiệm lời. Thậm chí có những người sống ở ngay gần nhà cũng không biết ông chính là Từ Linh trong những sáng tác chung với Đoàn Chuẩn. Ông làm thơ, chơi nhạc chỉ là để cho mình, thỏa mãn sở thích riêng mà thôi. Cả ông và Đoàn Chuẩn rất ít khi nói về việc sáng tác, dường như đó là điều mà hai ông muốn giữ riêng và chỉ nghĩ đó là những việc làm cho vui, chứ không nghĩ sẽ có ngày người ta lại muốn biết, muốn tìm hiểu đến điều đó. Vì vậy, những câu chuyện xung quanh việc sáng tác chung của Đoàn Chuẩn và Từ Linh cho đến nay, vẫn còn là bí mật.

Tình thâm

          Có người đã từng nhận xét rằng giữa Đoàn Chuẩn và Từ Linh, đó là thứ tình bạn hơn cả tình bạn, tình cảm giữa hai con người tài hoa ấy không chỉ dừng lại ở mức tri âm mà hơn thế, đó là tri kỷ.

Cho đến tận bây giờ, nhiều người vẫn không thể giải thích hay làm sáng tỏ được việc viết nhạc và lời của hai ông trong các sáng tác, liệu rằng, có phải vì quá thấu hiểu gan ruột của nhau, mà trong những tác phẩm âm nhạc của hai người, sự hòa quyện ấy gần như không có ranh giới. Từ giai điệu cho đến lời ca, là cả một sự gắn bó khăng khít không thể tách bạch được. Tuy nhiên, trong nhiều bản chép tay của Đoàn Chuẩn, ông luôn ghi là “Nhạc: Đoàn Chuẩn - Lời: Từ Linh”.

Từ Linh tuổi Mậu Thìn, ít hơn Đoàn Chuẩn 4 tuổi. Thuở thanh niên, Đoàn Chuẩn chơi với anh trai của Từ Linh, nhưng dần dà lại hợp với chú em là Từ Linh hơn, bởi ở hai người có sự đồng điệu về tâm hồn cũng như sở thích âm nhạc. Đoàn Chuẩn và Từ Linh, ngoài sự đồng điệu ấy thì khác nhau hoàn toàn. Trong khi Đoàn Chuẩn chỉ biết có một thứ là âm nhạc thì Từ Linh lại có rất nhiều tài lẻ, thậm chí ông còn là đấu thủ tennis, hay hí hoáy với những việc sửa chữa máy móc. Tuy nhiên, mức độ chịu chơi của hai ông cũng không kém nhau là mấy. Nếu Đoàn Chuẩn là người si tình thì Từ Linh lại rất đào hoa. Chính Từ Linh cũng có những người phụ nữ khác ngoài người vợ giỏi giang buôn bán của ông. Đặc biệt, ông cũng có riêng mình một “người em gái miền Nam” thực sự, và người phụ nữ ấy còn hạ sinh cho ông một người con gái tên là Nga, hiện sống tại Sài Gòn, tuy nhiên, do hoàn cảnh không thuận nên đến bây giờ, gia đình Từ Linh cũng chưa gặp lại được “người em gái” ấy. Cũng rất có thể, bài hát Gửi người em gái miền Nam của Đoàn Chuẩn - Từ Linh, chính là xuất phát từ tình cảm đó của Từ Linh, dựa trên giai điệu và tình cảm thật của Đoàn Chuẩn, cũng với người em gái của ông nữa.

Nghệ sĩ ưu tú Hà Đình Cường, cây trumpet nổi tiếng của Việt Nam là cháu gọi Từ Linh là chú ruột cũng cho biết, giữa Đoàn Chuẩn và Từ Linh, đó là một tình bạn sâu sắc không thể phủ nhận. Có những điều của hai người chỉ có hai ông biết với nhau. Họ gắn bó với nhau và cả cuộc đời giữ gìn sự gắn bó ấy, khiến nhiều người tò mò cũng không thể biết hay hiểu thêm được. Chỉ biết rằng, tình cảm mà Đoàn Chuẩn và Từ Linh dành cho nhau là một tình bạn quý giá, sâu sắc chả kém gì câu chuyện về Bá Nha với Tử Kỳ. Anh Thạch An còn nhớ có thời gian sau giải phóng, hai ông hay chụm đầu vào chiếc máy đĩa cối cùng nhau nghe nhạc, thầm thầm thì thì, rồi thỉnh thoảng lại phá lên cười với nhau. Có những lúc ngồi nghe nhạc Trịnh, ông Đoàn Chuẩn quay sang nói với Từ Linh rằng, “nhạc của ông Trịnh Công Sơn này quái thật, nhưng nhiều khi những ý tưởng của chú cũng ghê gớm không kém đâu”. Họ thường hay động viên nhau như thế.

Sau giải phóng, kinh tế hai gia đình đều sa sút, Đoàn Chuẩn rắc rối với lý lịch gia đình tư sản, Từ Linh giải ngũ trở về làm nhân viên sửa máy tính ở Công ty Bách hóa tổng hợp, cuộc sống khó khăn nhưng tình bạn giữa họ vẫn vẹn nguyên. Có lẽ kinh qua những khó khăn như thế, hai con người ấy lại càng thấm thía về hai chữ tình bạn hơn bao giờ hết. Đoàn Chuẩn dù có bị những tiếng xấu thế nào, ông vẫn là một người anh, một người bạn tốt nhất của Từ Linh. Con người Đoàn Chuẩn đẹp đẽ và được kính trọng là bởi tâm hồn ông đẹp đẽ, bản chất con người ông quá tốt. “Trong suốt 6 tháng trời Từ Linh bị liệt nằm viện cho đến lúc ông qua đời (1987), ngày nào Đoàn Chuẩn cũng sang thăm Từ Linh 2 giờ. Đoàn Chuẩn ngồi xoa bóp cho Từ Linh, hai người thầm thì kể chuyện, ngày nào cũng vậy mà họ vẫn không hề có biểu hiện nhàm chán”, anh Thạch An kể.

Sau khi Từ Linh mất, Đoàn Chuẩn có sáng tác được thêm một số bài và ông vẫn ghi chung tên hai người, như một sự trân trọng đặc biệt tình bạn với người bạn, người em tri âm tri kỷ của mình.

Một số cac khúc nổi tiếng: 
  • Ánh Trăng Mùa Thu Đây mới là ca khúc đầu tiên của Đoàn Chuẩn, sáng tác năm 1947, Tài liệu do Gia đình nghệ sĩ cung cấp.
  • Tình nghệ sĩ (1948)
  • Lá thư, 1948
  • Đường về Việt Bắc, hay "Tà áo tím", 1949
  • Thu quyến rũ, 1950
  • Chuyển bến, 1951
  • Gửi gió cho mây ngàn bay, 1952
  • Cánh hoa duyên kiếp (hay Dạ lan hương), 1953
  • Lá đổ muôn chiều, 1954
  • Tà áo xanh, Còn gọi là "Dang dở", 1954-1955
  • Chiếc lá cuối cùng1955
  • "Để có những chiều tắt nắng", 1955
  • "Một gói nho khô, một cánh pen sec". 1955
  • "Vàng Phai Mấy Lá (Vĩnh biệt)", 1955
  • Gửi người em gái miền Nam, 1956 *
  • "Khuôn mặt em" (Thơ Văn Cao), 1987
  • "Đường thơm hoa sữa gọi", 1988
  • "Màu nắng có bao giờ phai đâu", Đây là nhạc phẩm cuối cùng, được sáng tác năm 1989.

Sưu tầm

Chia sẻ và bình luận